dathoc.com Bài giảng Giáo án đề thi tài liệu miễn phí Download, chia sẽ tài nguyên dạy và học miễn phí !
Tất cả Giáo án Bài giảng Bài viết Tài liệu
Nếu không xem dược hãy bấm Download về máy tính để xem
Download giao an tìm hiểu lich sử TP Tam K, Quảng Nam mien phi,tai lieu tìm hiểu lich sử TP Tam K, Quảng Nam mien phi,bai giang tìm hiểu lich sử TP Tam K, Quảng Nam mien phi 100%, cac ban hay chia se cho ban be cung xem

Uploaded date: 2/28/2017 10:38:26 AM
Filesize: 0.00 M
Download count: 0
Bấm nút LIKE +1 để cảm ơn
SAU ĐÓ BẤM
Download
Bài viết dự thi
tìm hiểu 110 năm phủ lỵ TAM KỲ
và 10 năm thành năm thành lập thành phố.

Người viết: Nguyễn Thị Trường
Chức vụ: Đảng viên
Đơn vị công tác: Chi bộ thôn Đồng Hành

Tam Kỳ trên dặm dài lịch sử

1.Vài nét về lai lịch một vùng đất (thời tiền sử - 1858)
Trên vùng đất Tam Kỳ từ trước cho đến nay, các nhà khảo cổ học vẫn chưa tìm thấy di tích nào thuộc thời đại đá cũ. Trong những thập kỷ gần đây, nhờ kết quả của những cuộc khai quật khảo cổ học tại nhiều địa điểm khác nhau trên địa bàn Hà Đông - Tam Kỳ, từ đó đã tái hiện lại một bức tranh toàn cảnh, tương đối đầy đủ từ thời tiền sử và sơ sử trên vùng đất này. Bàu Dũ là di chỉ sớm nhất thuộc thời đại đá mới sau Hòa Bình (cách đây chừng 6000 năm) được phát hiện năm 1981 tại Phú Đông, Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, cách quốc lộ 1A khoảng 1 km về phía Đông và cách biển 4km. Bàu Dũ là di tích vừa là nơi cư trú vừa là mộ táng - một đặc trưng tiêu biểu trong hình thức sinh hoạt thời tiền sử. Vì thế, di chỉ này được xếp vào loại hình di tích “Đống rác bếp” hay “Cồn sò điệp” (Kjokkenmodding). Đúng như một người đã nói: Bàu Bũ là một phát hiện khảo cổ quan trọng không chỉ đối với Quảng Nam mà đối với cả khu vực Nam Trung Bộ.

Thời tiền sử: Đại diện tiêu biểu cho giai đoạn tiền Sa Huỳnh là khu di tích Bàu Trám (Tam Anh Bắc, Núi Thành), nằm ở hữu ngạn sông Vĩnh An được khai quật vào năm 1979 và 1992. Tại đấy, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các hiện vật bằng gốm và đồng thau như nồi, hủ, tô, bát, lọ… khá nguyên vẹn có kích thước khá lớn, vành miệng loe rộng và hàng vạn mảnh gốm nằm dưới 2 tầng văn hóa niên đại cách ngay nay khoảng 3000 đến 2500 năm. Đặc biệt, tại di tích Phú Hòa (Mỹ Tân An - Tam Xuân - Núi Thành) cho thấy sự giao lưu văn hóa Sa Huỳnh và Đông Sơn qua bộ sưu tập công cụ lao động và vũ khí đồng thau mang nhiều yếu tố Đông Sơn được phát hiện cạnh mộ Chum Sa Huỳnh.

Bước sang giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh, (niên đại từ giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên - thế kỷ đầu Công nguyên tương ứng với sơ kì đồ sắt). Thì Tam Kỳ nói riêng và ở Quảng Nam nói chung là nơi có nhiều di tích nhất. Trong đó nổi bật nhất khu mộ chum Khương Mỹ thuộc Tam Xuân 1 - Núi Thành với nhiều mộ chum hình trụ và một số nồi lớn, mộ chum hình trứng.
Đồ sắt, đặc trưng tiêu biểu không chỉ có tại Tam Kỳ mà ở khắp các di tích Sa Huỳnh. Công cụ vũ khí bằng sắt khá nhiều gồm dao, kiếm, rựa, liềm, rìu, cuốc… được làm bằng phương pháp rèn nóng. Dựa vào các hiện vật mà các nhà nghiên cứu đã bước đầu phỏng đoán cư dân lúc này đã có sự phân hóa giàu nghèo, họ sống định cư ở đồng bằng và trồng lúa nước là hoạt động kinh tế chính.

Sự ra đời và phát triển rực rỡ của văn hóa Chămpa là gạch nối của văn hóa, lịch sử. Qua nhiều năm tìm hiểu, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng người Chăm là một trong những cư dân bản địa ở Miền Trung Việt Nam và là hậu duệ trực tiếp hay gián tiếp của cư dân cổ Sa Huỳnh. Họ gồm 2 bộ tộc Cau và Dừa sinh sống vào nửa thế kỷ I trước Công nguyên trên dải đất từ Quảng Nam đến Bình Thuận.

Từ 190 - 193, nhân Trung Hoa loạn lạc, nhân dân Tượng Lâm dưới sự lãnh đạo của Khu Liên đã nổi dậy dựng quyền tự chủ (192), mở đầu vương quốc Gangaraja hay gọi là Lâm Ấp. Từ cuối thế kỷ II đến nửa sau thế kỷ IV, lãnh thổ Lâm Ấp không ngừng mở rộng và vững chắc nhất là từ sau khi lãnh thổ được thống nhất, vương quốc Chămpa được xác lập (IV), phát triển hưng thịnh trong suốt nhiều thế kỷ (cuối IV - XIV). Sau đó vì nhiều lý do Chămpa suy yếu. Năm 1402, Hồ Quý Ly dùng biện pháp quân sự mở rộng đất đai, buộc vua Chiêm cắt 2 châu Chiêm Động và Cổ Lũy để dâng cầu hòa. Hồ Quý Ly lập nên 4 châu Thăng - Hoa - Tư - Nghĩa và thực hiện chính sách di dân vào đây. Châu Thăng và châu Hoa gồm vùng đất từ Duy Xuyên đến Núi Thành ngày nay. Như vậy, vùng đất Tam Kỳ đã thuộc về Đại Việt từ 1402. Đặc biệt, sau khi cuộc bình Chiêm thắng lợi, vua Lê Thánh Tông đã sáp nhập toàn bộ vùng đất từ Nam Hải Vân đến đèo